• Viêm bàng quang kẽ


    03:13:28, 02/02/2010

    Viêm bàng quang kẽ (VBQK) là một hội chứng lâm sàng biểu hiện bằng đái buốt, đái rắt cả ngày lẫn đêm và đau vùng tiểu khung không rõ nguyên nhân.

    VBQK có căn nguyên, sinh lý bệnh không rõ ràng và tiêu chuẩn chẩn đoán không xác định được. Mặc dù có nhiều nghiên cứu đáng kể nhưng phương pháp điều trị hiệu quả thống nhất vẫn chưa xác định được. Cách điều trị thường bao gồm nhiều phương pháp hỗ trợ, cách cư xử và thuốc. Can thiệp bằng phẫu thuật hiếm khi đặt ra. Nếu điều trị không khỏi sẽ gây ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống và sinh hoạt của bệnh nhân.

    Căn nguyên và sinh lý bệnh học

    Căn nguyên của VBQK vẫn còn chưa biết rõ, có theerdo nhiều nguyên nhân phối hợp. Các căn nguyên được đưa ra bao gồm:

    - Vai trò bệnh lý của dưỡng bào trong cơ thắt và/hoặc trong các lớp cơ của bàng quang

    - Suy giảm lớp glycosaminoglycan của bề mặt lòng bàng quang, kết quả là làm tăng tính thấm của lớp tổ chức dưới niêm mạc bên dưới đối với các chất độc trong nước tiểu.

    - Nhiễm khuẩn với các yếu tố có đặc điểm nghèo nàn (ví dụ với vi rút phát triển chậm hoặc với vi khuẩn cực khó tính)

    - Sản sinh ra các chất độc trong nước tiểu

    - Tăng nhạy cảm thần kinh hoặc viêm nhiễm tại chỗ ở bàng quang hoặc ở mức tuỷ sống

    - Biểu hiện của giảm chức năng cơ nền chậu hoặc rối loạn chức năng tiểu tiện

    - Rối loạn tự miễn 

    Sinh lý bệnh của VBQK chỉ được hiểu một cách nghèo nàn. Mặc dù có nhiều nguyên lý được đưa ra nhưng không có cách giải nghĩa thích hợp về sự biểu hiện đa dạng lâm sàng và cách đáp ứng với điều trị. Điều này cho thấy VBQK biểu hiện một số tình trạng bệnh học rất khác nhau và vẫn chưa xác định được cụ thể.

    Bởi vậy, qua thời gian, nhiều tác giả quy cách biểu hiện tối ưu nhất thành hội chứng lâm sàng đái buốt, đái rắt và đau vùng chậu tiểu khung, phï hîp víi hai loại phân biệt dựa vào nhận định trong soi bàng quang và có phối hợp với tình trạng quá giãn bàng quang: loét và không loét (ví dụ dạng Messing-Stamey).

    Biểu hiện lâm sàng

    Vì VBQK không có căn nguyên rõ ràng và khó xác định nên biểu hiện lâm sàng thường không rõ rệt.

    Khởi đầu của triệu chứng thường cấp tính (nhưng không phải lúc nào cũng vậy). Bệnh nhân bị VBQK có tỷ lệ phối hợp cao với các tình trạng dị ứng, hội chứng ruột kích thích, đau xơ cơ và viêm tại chỗ âm hộ.

    VBQK đặc trưng bởi các chu kỳ phát triển xen kẽ với các đợt thoái triển. Các triệu chứng đái buốt, đái rắt, đau và đái khó có thể thay đổi từng ngày hoặc từng tuần, nhưng cũng có thể chẳng thay đổi gì cả trong nhiều tháng hoặc nhiều năm rồi tự nhiên khỏi có hoặc không điều trị gì.

    Ở phụ nữ, các triệu chứng có thể liên quan đến chu kỳ của buồng trứng. Hơn nữa, các dữ liệu gần đây gợi ‎ý rằng một số bệnh nhân mang thai có những thời kỳ thoái triển vào giai đoạn 3 tháng giữa và 3 tháng cuối.

    Các bệnh nhân có thể biểu hiện cảm giác khó chịu hoặc đau vùng tiểu khung, cảm giác mơ hồ khi bàng quang rỗng không hoàn toàn, hoặc cảm giác buồn tiểu không dứt.

    Sự thoái triển tự phát có thể xuất hiện ở 50% các trường hợp sau thời gian trung bình 8 tháng. Các triệu chứng có thể mất đi hoàn toàn tự phát, hoặc bệnh nhân có thể qua những giai đoạn thăng trầm của bệnh, hoặc hoàn toàn không biểu hiện gì cả xen lẫn với những đợt bùng phát, hoặc có thể dần tiển triển sang mạn tính sau nhiều năm.

    Biểu hiện thường gặp nhất của VBQK là các triệu chứng đường tiểu dưới bị kích thích, người bệnh đái nhiều lần. Số lần đái chính xác (cả ban ngày và ban đêm) là không quan trọng. Tuy nhiên, theo tiêu chuẩn của Viện quốc gia về đái tháo đường và bệnh tiêu hoá và bệnh thận, đái nhiều hơn 8 lần/ ngày được coi là thích hợp để đưa vào các nghiên cứu lâm sàng.

    Đái nhiều lần ban ngày mà không đái đêm không phải là đặc điểm của viêm bàng quang kẽ. Nếu không đái đêm thì có thể bệnh đái rắt do cảm giác.

    Cảm giác đau khi bàng quang đầy là dấu hiệu thường gặp và có thể thấy được qua niệu động học hoặc qua chụp bàng quang. Bệnh nhân có thể thấy đau tiểu khung liên tục hoặc đau khi bàng quang đầy. Rối loạn tiểu tiện có thể gặp tới 50% ở các bệnh nhân nữ. Nam giới có thể thấy đau ở tầng sinh môn, háng, dương vật, hoặc vùng bìu.

    Chẩn đoán

    Chẩn đoán viêm bàng quang kẽ thường được đặt ra khi có các triệu chứng đái buốt, đái rắt kéo dài và đau tiểu khung xuất hiện mà không có căn nguyên nào đã xác định được từ trước, ví dụ như hội chứng nhiễm khuẩn đường tiểu dưới .

    Xét nghiệm phân tích nước tiểu và cấy vi khuẩn niệu được đặt ra. Nhật ký tiểu tiện giúp ích trong sự thiết lập tần xuất đi tiểu căn bản. Một số tác giả coi soi bàng quang là cần thiết để chẩn đoán viêm bàng quang kẽ; tuy nhiên, còn có tranh cãi vì thiếu các dấu hiệu đặc hiệu về bệnh học (trừ trường hợp rất hiếm của loét Hunner).

    Đánh giá niệu động học là sự lựa chọn nhưng không phải là xét nghiệm thường quy; dấu hiệu hoạt động quá mức của cơ thắt hoặc mất chức năng nền chậu có thể gợi ý chẩn đoán khác.

    Do bệnh không có các dấu hiệu đặc hiệu nên có thể nhầm các bệnh lý khác cũng xuất hiện các triệu chứng như VBQK; Ví dụ : Nhiễm khuẩn hoặc viêm nhiễm như: nhiễm khuẩn đường tiểu dưới tái diễn, túi thừa niệu đạo, viêm tuyến Bartholin n»m ë hoặc tuyến Skene bộ phận sinh dục nữ, viêm tiền đình âm hộ, viêm bàng quang do lao, viêm âm đạo (do vi khuẩn, vi rút ) hoặc bệnh sán, các nguyên nhân phụ khoa như: khối ác tính vùng chậu, lạc nội mạc tử cung,…

    Các nguyên nhân tiết niệu như: ung thư bàng quang, viêm bàng quang do tia xạ, tắc đường bài xuất nước tiểu từ bàng quang, nước tiểu tồn dư nhiều, Các nguyên nhân thần kinh như: tăng phản xạ cơ thắt, bệnh Parkinson, bệnh đĩa thắt lưng cùng, hẹp tuỷ sống, u tuỷ sống, bệnh đa xơ củ, tai biến mạch máu não,…

    Các nguyên nhân khác như: bệnh thoát vị, viêm ruột, thoái hóa khớp,…

     Điều trị

     Điều trị nội khoa

    Điều trị viêm bàng quang kẽ bắt đầu bằng hướng dẫn người bệnh, xét tới yếu tố mạn tính tự nhiên của bệnh và các đánh giá thực tế về tình trạng bệnh, tiên lượng bệnh cũng như những đáp ứng tiềm năng với điều trị. Hỗ trợ về tâm sinh lý có vai trò quan trọng.

    Trên lâm sàng, điều trị viêm bàng quang kẽ cần bắt đầu từ liệu pháp ít xâm phạm, rẻ tiền nhất, có thể thay đổi được và có điều chỉnh chế độ ăn uống. Sau đó, điều trị có thể tăng dần lên về mức độ xâm phạm tới một mức độ mà triệu chứng giảm đi.

    Các bài tập về phản hồi sinh học và hồi phục nền chậu (ví dụ bài tập Kegel), chương trình luyện tập bàng quang và các hướng dẫn tâm lý là những can thiệp khởi đầu rất tốt. Các biểu hiện về đái buốt, đái rắt dường như cải thiện tốt hơn với những can thiệp này so với biểu hiện đau tiểu khung.

    Một số thức ăn nhất định như cà phê, rượu, khoai tây, dấm, các chất gia vị, sô cô la, và đặc biệt rau quả có thể làm trầm trọng triệu chứng của viêm bàng quang kẽ; và theo ý kiến của một số tác giả thì có thể báo trước bùng phát triệu chứng viêm bàng quang kẽ. Vì vậy, nên tránh dùng những thức ăn này, thay thế bằng các loại khác.

    - Điều trị toàn thân. Có thể dùng các thuốc: natri pentosan polysulfate [Elmiron], kháng histamine, chống trầm cảm 3 vòng, thuốc giảm đau, chống viêm.

     - Điều trị trong bàng quang: bơm trực tiếp các thuốc vào bàng quang qua ống thông niệu đạo. Có thể dùng dung dịch lidocaine 1%, trong đó có hoà tan natri bicarbonat, misoprostol (Cytotec) và một số chất khác.

    - Các điều trị hỗ trợ như: châm cứu và thôi miên.

    Điều trị phẫu thuật

    Đặt bộ khởi động thần kinh cùng để điều trị đái buốt đái rắt đái rỉ cho kết quả hứa hẹn ở bệnh nhân viêm bàng quang kẽ.

    Tiêm botulinum A trong cơ thắt bàng quang qua niệu đạo đang được nghiên cứu để điều trị những bệnh nhân có đái buốt, đái rắt do nguyên nhân thần kinh hay không do nguyên nhân thần kinh và đái rỉ do hoạt động quá mức của cơ thắt bàng quang. Kết quả cho thấy đáng khích lệ.

    Các điều trị phẫu thuật khác:

    - Chiếu tia laser (kết quả nghèo nàn)

    - Kích thích điện (qua da, trong âm đạo, …) cho một số kết quả nhất định

    - Cắt thần kinh ngoại vi (ít được sử dụng)

    - Làm tăng thể tích bàng quang (kết quả còn tranh cãi do biểu hiện đau không cải thiện ở hầu hết bệnh nhân).

    - Chuyển dòng tiểu (xâm phạm nhiều nhất, chỉ sử dụng như lựa chọn cuối cùng).

    Do VBQK dấu hiệu không rõ ràng, có thể phải khám chẩn đoán và điều trị kéo dài, vì vậy khi có các triệu chứng rối loạn tiểu tiện, hoặc có các biểu hiện như trên nên đến thày thuốc chuyên khoa để khám và cho ý kiến tư vấn điều trị, không nên để bệnh kéo dài hoặc tự ý điều trị.

    ThS. Nguyễn Quang

    (Theo Vietduchospital.edu.vn)

    In tin bài Chia sẻ:
    Tổng quan Triệu chứng và phân loại Chẩn đoán và xét nghiệm Điều trị và chăm sóc Các loại thuốc điều trị Giải đáp của bác sỹ Kinh nghiệm cộng đồng