• Mãn kinh là gì?


    02:06:15, 09/03/2010
    Mãn kinh được định nghĩa là thời gian chu kỳ kinh nguyệt cuối cùng, tức là lần cuối cùng ra huyết âm đạo do các hormone buồng trứng gây ra, và tuồi trung bình của mãn kinh là 51 tuổi.

    Trước thời điễm này 5 năm, kinh nguyệt thừơng không đều, nên mãn kinh chỉ hồi cứu, sau 12 tháng “vô kinh” hoàn toàn không. thấy kinh. Mãn kinh cũng có thể gọi là “tắt dục”. Trong thời kỳ chu mãn kinh kéo dài đến vài năm sau mãn kinh, tất cả thời kỳ sau mãn kinh gọi là hậu mãn kinh.

    Măc dù tuổi mãn kinh nói trên là phổ biến, nhưng có sự biến thiên đáng kể. Mãn kinh có xu hướng xảy ra ở tuổi cao hơn ở các nước phương Tây, có lẽ là do ảnh hưởng của chế độ ăn uống và lối sống. Ngay trong một nước cũng có yếu tố di truyền mạnh quyết định tuổi mãn kinh; Điều này được chứng minh khi nghiên cứu gia đình và so sánh số liệu của các cặp sinh đôi.

    Ngoài ra nên chú ý rằng một số phụ nữ mãn kinh sớm, tức là xảy ra ở một tuổi khá trẻ. Điều này có thể xảy ra một cách tự nhiên, vì lý do duy truyền hoặc không rõ nguyên nhân, hoặc là hậu quả của cắt bỏ buồng trứng. Một số thủ thuật cắt bỏ tử cung hoặc cắt bỏ buồng trứng hai bên có thể được thưc hiện có cân nhắc vì những lý do lâm sàng như cắt bỏ khối u buồng trứng. Trong mọi trường hợp tình trạng hormone cũng giống như phụ nữ mãn kinh tự nhiên ở bất kỳ tuổi nào.

    Các triệu chứng của mãn kinh

    Không phải vì mãn kinh là một hiện tượng tự nhiên nên không có triệu chứng, và có nhiều phụ nữ có nhiều triệu chứng tiền mãn kinh khó chịu khi cơ thể họ điều chỉnh thích nghi với nồng độ hormone mới

    - Các triệu chứng thường gặp nhất là cơn bốc hoả, và đổ mồ hôi không phải lúc, mà có trên 4% số phụ nữ mãn kinh mắc phải và gây phiền hà cho đa số phụ nữ. Họ có thể cảm thấy nóng quanh ngực, đầu và cổ các triệu chứng này đi kèm với tăng nhiệt độ dưới da tại chỗ có thể đo được (và đôi khi thấy đuợc) kéo dài 20-40 phút

    - Nhịp tim có thể tăng lên 20 lần/ phút. Những triệu chứng vận mạch này có thể khởi phát ở những phụ nữ còn kinh nguyệt đều đặn và có thế kéo dài 5-10 năm sau mãn kinh (thường là 2-3 năm).

    Xuất độ của cơn bốc hoả thay đổi khá nhiều, từ 1 lần mỗi vài ngày đến 100 lần mỗi tuần ở một số trường hợp nặng. Các cơn bốc hoả có thể do stress, uống rượu hoặc nóng bức gây ra, nhưng đa số khó tìm đuợc nguyên nhân cụ thể.

    - Rối loạn tính khí cũng thường gặp, tuy khó lượng hóa hơn điển hình là lo lắng, ngủ gà, thiếu tập trung và mất ngủ. Những triệu chứng này thường gặp nhất khoảng 3 năm trước khi mãn kinh.

    Tỉ lệ phụ nữ có những thay đổi tính khí đó ước tính khoảng 25 -50%. Triệu chứng trầm cảm cũng được báo cáo trong thời gian này.

    - Ham muốn tình dục ở phụ nữ mãn kinh thường được báo cáo là thấp, có thể liên quan đến tác động tâm lý của estrogen trên não và giảm nồg độ androgen.

    Có nhiều yếu tố can dự vào vào việc định đoạt mức độ ham muốn tình dục và hưởng lạc, bao gồm những thay đổi thực thể mô tả dưới đây tuy vậy, (bản thân mãn kinh không phải là một quá trình lão hoá) cũng là một yếu tố lien quan trực tiếp đến; mất ham muốn và chức năm tình dục đã được báo cáo sau khi cắt bỏ buồng trứng

    - Các thay đổi khác ít được báo cáo hơn là đau khớp, hoặc đau cơ, chóng mặt và dị cảm.

    Thay đổi niệu sinh dục

    Các cơ quan niệu sinh dục như âm đạo, âm hộ, và niệu đạo xa cùng một nguồn gốc phôi học, và tất cả đều nhạy cảm với estrogen. Vì vậy, khi nồng độ estrogen bắt đầu suy giảm, những cơ cấu này sẽ thay đổi và có thể gây nên triệu chứng đó gây khó chịu và thường gặp.

    Teo âm đạo

    Thiếu estrogen làm mỏng biểu mô âm đạo vì tốc độ phân bào giảm đi; tỉ lệ các tế bào trưởng thành hơn trên bề mặt giảm. Thể tích bào tương cũng giảm. Biểu mô âm đạo trở nên khô hơn và dể tổn thương hơn. Sự phối hợp những yếu tố đó có thể gây nên một số triệu chứng bất lợi như đau hoặc ngứa tại chỗ.

    Tế bào biểu mô không những thay đổi số lượng mà còn thay đổi tính chất trong điều kiện tiền mãn kinh, các tế bào nông ở âm đạo tiết ra glycogen, thúc đẩy sự tăng trưởng các trực khuẩn này là vi sinh cộng sinh và giúp bảo vệ chống nhiễm khuẩn do các tác nhân gây bệnh khác, vì chúng sản xuất acid lactid làm âm đạo có pH acid ức chế sự tăng trưởng nhiều tác nhân gây bệnh khác. T

    rong tình trạng mãn kinh, giảm số luợng trực khuẩn, đặc biệt là vi khuảun trong phân, còn có nguy cơ cao nhiễm khuẩn đường tiểu dưới, dẫn đến viêm bàng quang.

    Triệu chứng âm đạo: 38% Nhiễm trùng niệu tái diễn: 13%

    Giao hợp đau: 38% Tiểu tiện mất tự chủ: 29%

    Khí hư: 15% Khi gắng sức 12%

    Ngứa : 15% Tiểu gấp 8%

    Hỗn hợp 9%

    Tỉ lệ các triệu chứng niệu sinh dục trên 900 phụ nữ 61 tuổi (chỉ có 4% phụ nữ dùgn lị6u pháp hormon thay thế)

    Những thay đổi bất lợi do teo âm đạo thương gây ra giao hợp đau và giảm lạc thú tình dục. Mỏng biểu mô âm đạo và giảm chất tiết âm đạo do nồng độ estrogen thấp là những yếu tố chính trong loại triệu chứng này.

    Giảm nồng độ estrogen cón có thể làm cho sự nâng đở thành âm đạo yếu đi và mất mô mở ở môi lớn. Không phải lúc nào người phụ nữ cũng cảm thấy thoải mái khi báo cho bác sĩ triệu chứng này. Do đó ngoài việc giảm ham muốn, nhiều phụ nữ còn cảm thấy chất lượng cuộc sống bị ảnh hưởng tồi tệ vì suy giảm nồng độ estrogen.

    Xương là một chất liệu trơ. Trong suốt cuộc đời, xương mới được sản xuất bởi các tạo cốt bào khi đứ với nhiều loại kích thích. Tuy vậy, mô xương cũng bị các hủy cốt bào tiêu hủy một cách hằng định, và có một sự cân bằng giữa hoạt động của hai loại tế bào này, quyết định tổng lượng xương thật sự.

    Trên phụ nữ sau mãn kinh, có sự thiên lệch về hướng ít tác động tạo cốt bào, làm mất dần khối lượng xương theo thời gian, tuy cơ chế chính xác của sự thay đổi này phức tạp và chưa được làm sáng tỏ hoàn toàn. Có một số bằng chứng cho rằng tốc độ chu chuyển xương nhanh tự nó cũng góp phần tạo điều kiện cho gãy xương xãy ra.


    Những thay đổi về tim mạch

    Quan trọng tương tự đối với sức khỏe phụ nữ, nếu không nói là nhiều hơn, là những thay đổi về hình thái và các yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch, đặc biệt là bệnh mạch vành (BMV). BMV là một trong những nguyên nhân tử vong lớn nhất của phụ nữ, chiếm trên 45% số tử vong.

    Tuy BMV hay gặp ở nam giới hơn phụ nữ trên mãn kinh, phần lớn các yếu tố nguy cơ đều tương tự nhau ở hai giới. Tuy vậy, đáng quan tâm là nguy cơ của mội yếu tố có thể khác nhau giữa hai giới; ví dụ bệnh tiểu đường có giá trị tiên đoán cho BMV ở phụ nữ tiền mãn kinh nhiuề gấp ba lần so với nam giới.

    Trước mãn kinh, phụ nữ có xuất độ BMV thấp hơn một cách có ý nghĩa, nhưng xuất độ tương đối tăng đáng kể khi khởi sự mãn kinh. Vì vậy nguy cơ tử vong lien quan tới BMV ở nam giới cao gấp 5 lần so với nữ giới 55 tuổi; nhưng tỷ số này giảm dần theo tuổi, cho đến trên 85 tuổi thì xuất độ ở hai giới hầu như giống hệt nhau.

    Ngoài các yếu tố nguy cơ BMV chung cho nam và nữ, estrogen còn được chứng minh là một yếu tố bảo vệ chính, và nồng độ estrogen ở mức bảo vệ đã hạ thấp nguy cơ ở phụ nữ tiền mãn kinh.

    Một trong những nghiên cứu tim mạch lớn nhất được thực hiện trên phụ nữ (và đang tiếp tục ) là nghiên cứu sức khỏe điều dưỡng, đã cho thấy vai trò của estrogen trong dự phòng BMV. Ví dụ, Phụ nữ tiền mãn kinh bị cắt bỏ buồng trứng ( và không còn tiết estrogen) có nguy cơ tương đối nhồi máu cơ tim cao hơn gấp đôi, trong khi những người như thế được bổ sung estrogen có cùng nguy cơ như ở nhóm tiền mãn kinh.

    Các hệ cơ quan khác

    Da có nhiều thay đổi sau mãn kinh, nhưng một số thay đổi này có thể liên quan với lão hóa hơn là thay đổi hormon. Nhiều phụ nữ thấy rằng da trở nên khô và dể bong vào thời kỳ này, và cũng dể bị bầm máu hơn.

    Có nhiều bằng chứng cho thấy những thay đổi này lệ thuộc estrogen, và liệu pháp hormon thay thế (HTT) được chứng minh là cải thiện được phẩm chất da trong một thời gian ngắn.

    Ví dụ, một phân tích cắt ngang gần đây được thực hiện trên 3800 phụ nữ sau mãn kinh tại Hoa Kỳ thếy rằng nhũgn người dùng estrogen ít có khả năng bị khô và nhăn da hơn một cách có ý nghĩa so với những người không dùng, ngay cả sau khi đã hiệu chỉnh các yếu tố gây nhiễu.

    Cũng có gợi ý cho rằng nồng độ estrogen có thể có lợi cho phụ nữ sau mãn kinh mắc bệnh alzeimer hoặc ngăn ngừa được sự phát triển bệnh này. Bằng chứng hiện nay còn trái ngược nhau, vì nhiều nghiên cứu trước đây không được kiểm soát tốt những yếu tố có khả năng gây nhiễu.

    Tuy vậy, trong một tổng quan gần đây về 10 thử nghiệm lâm sang, điều trị thay thế estrogen tỏ ra có lợi trên đáp ứng trí nhớ trogn 3 nghiên cứu. Tương tự, trên một quần thể phụ nữ sau mãn kinh cao tuổi, có 5,8% số người dùng HTT bị phát bệnh Alzeimer, so với 16,3% ở những người không dùng. Những phụ nữ có thời gian dùng HTT lâu dài ít có khả năng phát triển bệnh hơn (Tang et al. 1996).

    Những thay đổi về nồng độ estrogen ở tuổi mãn kinh cần được gán cho những thay đổi có thể xãy ra ở lông tóc vào thời kỳ này tóc có thể khô hơn, ít bóng và dễ gãy. Phụ nữ cũng có thể bị khô mắt, dẫn đến kích ứng tại chổ và có thể phải cần dùng thuốc nhỏ mắt thay cho sự tiết nước mắt không đầy đủ.

    Tóm tắt

    Những thay đổi mãn kinh là do nang noãn giảm số lượng và thiếu sự đáp ứng với FSH, dẫn đến tắt kinh.

    Mãn kinh có thể là hậu quả của phẫu thuật vì những lý do khác.

    Các thay đổi vận mạch là một trogn những triệu chứng thường gặp nhất trong thời kỳ chu mãn kinh.

    Những thay đổi niệu – sinh dục có thể dẩn đến các triệu chứng âm đạo và rối loạn đường tiểu.

    Mãn kinh là đi kèm với giảm mật độ xương và những thay đổi cấu trúc xương.

    Xuất độ bệnh mạch vành ở phụ nữ tăng sau mãn kinh.

    (Theo Khoe24.vn)

    Tài liệu đính kèm
    In tin bài Chia sẻ:
    Tổng quan Triệu chứng và phân loại Chẩn đoán và xét nghiệm Điều trị và chăm sóc Các loại thuốc điều trị Giải đáp của bác sỹ